William J.O’Neil - Nhà quản lý quỹ trẻ đầy triển vọng (1968)

{tocify} $title = {Nội dung bài viết}

Trích từ The New York Times, ngày 10/01/1968
Chuyên mục Market Place: Quỹ O’Neil tăng trưởng tài sản vượt bậc
Tác giả: Robert Metz

1. Mở đầu

Một chàng trai người Texas 35 tuổi khá rụt rè và thường đến văn phòng lúc 2:30 chiều theo giờ Beverly Hills, đã vượt qua Quỹ Enterprise trong cuộc đua hiệu quả đầu tư của các quỹ tương hỗ khi Quỹ O’Neil đạt mức tăng trưởng 115,6% trong năm 1967.

Tuy nhiên, William J.O’Neil không dành thời gian buổi sáng để thư giãn bên hồ bơi. Ông có mặt tại văn phòng ngay trong nhà mình và theo dõi bảng giá cũng như nghiên cứu dữ liệu máy tính. Khi Sở Giao dịch chứng khoán New York mở cửa lúc 7 giờ theo giờ California, O’Neil đã bắt đầu làm việc.

Mỗi ngày, ông phân tích dữ liệu của 2.050 cổ phiếu niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán New York (NYSE) và Sàn American Stock Exchange (AMEX) nhằm xác định khoảng 100 cổ phiếu có triển vọng tốt nhất để gia tăng giá trị tài sản của quỹ.

William J.O’Neil vốn là người khá kín tiếng. Theo cộng sự John R. Murphy, “ông ấy rất rụt rè cho đến khi bạn thật sự quen biết”. O’Neil chủ động tạo khoảng cách với khách hàng của công ty, Không phải vì ông không thích giao tiếp, mà bởi ông tin rằng cần phải tách biệt những cảm xúc của nhà đầu tư khỏi quá trình ra quyết định, vốn dựa vào dữ liệu khách quan và tính kỷ luật.

Thực tế, Quỹ O’Neil chỉ là một sản phẩm phát sinh từ công ty William J.O’Neil & Co., một công ty môi giới chuyên cung cấp dịch vụ quản lý tài khoản đầu tư cho những khách hàng có ít nhất 75.000 USD. Quỹ được thành lập nhằm phục vụ những khách hàng không đủ mức vốn tối thiểu này.

Hiện tại, chứng chỉ quỹ O’Neil mới chỉ được phân phối tại khu vực miền Tây nước Mỹ. Tuy nhiên, công ty đang có kế hoạch mở rộng phạm vi hoạt động sang các thị trường khác. Công ty cũng chỉ phân phối quỹ thông qua hệ thống bán hàng của chính họ.

Giới đầu tư phố Wall tin rằng bất kỳ ai có thể kết hợp tốc độ xử lý của máy tính với những chỉ báo đáng tin cậy về xu hướng thị trường sẽ đạt được thành công lớn. Và cho đến thời điểm đó, William J.O’Neil chính là minh chứng rõ ràng nhất.

2. Sử dụng máy tính để tìm ra những cổ phiếu dẫn đầu

O’Neil sử dụng máy tính nhằm xác định những chỉ báo sớm của các cổ phiếu sắp có biến động mạnh.

Một trong những tiêu chí được ông đặc biệt chú trọng là tốc độ tăng trưởng lợi nhuận trong hai quý gần nhất, đồng thời phân tích toàn bộ dữ liệu lợi nhuận theo quý của 6 năm trước đó đối với tất cả 2.050 cổ phiếu niêm yết. Máy tính cũng theo dõi những công ty có từ 1 đến 10 triệu cổ phiếu lưu hành.

John R.Murphy giải thích:
“Chúng tôi không quan tâm đến những công ty có số lượng cổ phiếu lưu hành quá lớn, bởi vì điều đó tạo tình trạng cung quá nhiều, làm mất đi lợi thế về cung - cầu.”
Ông tiếp tục:
“Sau đó chúng tôi theo dõi sức mạnh tương đối (Relative Strength) của từng cổ phiếu so với toàn bộ các cổ phiếu niêm yết. Nó tăng nhanh hơn hay giảm nhanh hơn thị trường? Tiếp theo, chúng tôi đánh giá sức mạnh tương đối của ngành mà cổ phiếu đó được phân loại.”
“Nhờ vậy, bất cứ khi nào cần, chúng tôi đều có thể lập bảng xếp hạng - thậm chí là hàng ngày. Chúng tôi có các bảng xếp hạng riêng cho từng yếu tố: cổ phiếu nào có lợi nhuận tốt nhất, cổ phiếu nào được các quỹ đầu tư mua vào nhiều nhất và cuối cùng là cổ phiếu tốt nhất xét trên tổng hợp mọi tiêu chí.”
Murphy nhấn mạnh:
“Chúng tôi không tự động mua cổ phiếu đứng số một. Nhưng chúng tôi tin rằng 100 cổ phiếu xếp hạng cao nhất là nơi đáng để dành thời gian nghiên cứu, thay vì phải xem xét toàn bộ thị trường.”
Murphy kể lại một ví dụ thú vị:
“Đã từng có lúc một cổ phiếu bất ngờ đạt điểm xếp hạng rất cao, đến mức chúng tôi nghĩ rằng máy tính đã bị lỗi. Nhưng khi Control Data xuất hiện trong danh sách, chúng tôi kiểm tra lại và quyết định mua.”
“Chúng tôi không bao giờ mua một cổ phiếu nếu chỉ có phân tích kỹ thuật hoặc chỉ có yếu tố cơ bản tốt. Chỉ khi cả hai cùng đồng thuận, chúng tôi mới đầu tư.”
“Máy tính giúp chúng tôi biết được nên lựa chọn doanh nghiệp nào. Nhiều chuyến khảo sát thực tế sẽ không bao giờ thực hiện được nếu không có kết quả đánh giá từ máy tính.”

3. Control Data - Khoản đầu tư thành công nhất

Trong năm 1967, khoản đầu tư mang lại lợi nhuận lớn nhất cho Quỹ O’Neil chính là Control Data.
Đồ thị tuần của Control Data năm 1967
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc xếp hạng hiệu quả các quỹ đầu tư theo tỷ lệ phần trăm thường làm có lợi cho những quỹ có quy mô nhỏ, bởi việc đạt mức tăng trưởng cao với danh mục nhỏ dễ dàng hơn.

Quỹ O’Neil khi đó quản lý khoảng 10 triệu USD và được thành lập chưa đầy 2 năm.

Trong khi đó Quỹ Enterprise đứng thứ hai trong bảng xếp hạng do tạp chí FundScope công bố, quản lý tới 247 triệu USD tài sản vào cuối năm. Tuy vậy, một năm trước đó quỹ này mới chỉ có 28 triệu USD.

Trong năm 1967, giá trị tài sản ròng (NAV) trên mỗi chứng chỉ quỹ của Enterprise tăng 114,4%; chỉ thấp hơn đôi chút so với mức 115,6% của quỹ O’Neil.

4. Bài học rút ra

Đây được xem là một trong những bài báo đầu tiên tại Mỹ ghi nhận việc O’Neil ứng dụng máy tính vào quá trình lựa chọn cổ phiếu, một ý tưởng tiên phong vào cuối thập niên 1960.

Bên cạnh đó, bài báo cho thấy triết lý đầu tư của William J. O’Neil đã hình thành từ rất sớm, trước khi ông viết cuốn How to Make Money In Stocks. Có thể thấy nhiều yếu tố sau này trở thành nền tảng của phương pháp CANSLIM:
  • Ưu tiên tăng trưởng lợi nhuận theo quý.
  • Tìm kiếm Relative Strength (RS) cao.
  • Chỉ chọn khoảng 100 cổ phiếu mạnh nhất trong toàn thị trường để nghiên cứu.
  • Kết hợp cả phân tích cơ bản và kỹ thuật, không sử dụng riêng lẻ một phương pháp.
  • Dùng máy tính để sàng lọc, sau đó mới tiến hành nghiên cứu doanh nghiệp.

Đăng nhận xét

Mới hơn Cũ hơn